Trong hành trình đặt chân đến miền đất xa xôi ở Viễn Đông năm 1872, viên bác sĩ hải quân Pháp Albert Morice ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của vùng đất xứ nhiệt đới. "Nam Kỳ du hí" của ông sẽ đưa bạn đọc đến những vùng đất khác nhau, khám phá con người cũng như thiên nhiên của xứ này vào những năm cuối thế kỷ 19 .
Khi đi dạo trên phố Catinat và nhiều phố khác, Morice nhận thấy cây me được trồng khá phổ biến. Catinat là một trong những trục đường lớn của thành phố, với nhiều ngôi nhà mang đậm phong cách châu Âu: nhà của giám đốc Nội chính nằm khuất sau những tán lá xanh mướt. Không xa là văn phòng của Sở Đúc tiền, Bưu điện, phân cách nhau bởi những khoảng đất rộng rậm rạp bụi tre, thầu dầu, cà độc dược, bụi cây leo và lau lách.
Song song với phố Catinat là phố Nationale , thưa dân hơn, nhưng có không ít các công trình nổi tiếng như: Dinh Thống đốc cũ, nhà của giám đốc Sở Y tế và các tòa nhà công binh. Đồn cảnh sát xây giữa phố là nơi người Âu, người Ấn Malabar, Hoa kiều và người bản xứ thường xuyên lui tới. Người bản xứ mặc như cảnh sát, hông giắt kiếm ngắn đầu đội mũ trông giống như "những anh hùng rơm".
Cách xa Sài Gòn chừng 5,5km là Chợ Lớn - thành phố lớn nhất Nam Kỳ,với khoảng 80 nghìn dân, tập trung hoạt động buôn bán của Hoa kiều: từ thóc gạo, vải vóc đến các sản phẩm từ Trung Hoa. Điểm khác biệt của Chợ Lớn chính là những khu nuôi cá sấu dọc bờ sông, thường bị ngập mỗi khi thủy triều dâng cao, được quây kín bằng những chiếc cọc nặng và dài trên diện tích chừng 20m2, với khoảng 200 con được vỗ béo lấy thịt.
Con người xứ Nam Kỳ
Từ những cảm nhận về nhân học của người Nam Kỳ, Morice đăc biệt chú ý đến lối sống cũng như tuổi thọ của người bản xứ. Do chế độ ăn ít thịt, cộng thêm điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, rất nhiều trẻ nhỏ đã tử vong do bị viêm phế quản, nhiễm trùng đường ruột không rõ nguyên nhân.
Nhà của người bản xứ chủ yếu là nhà nổi, nửa trên mặt nước, nửa trên cạn hoặc sình lầy nên không đảm bảo vệ sinh. Với truyền thống canh tác lúa và đánh bắt cá, người Nam Kỳ được coi là cư dân sông nước. Khi thủy triều dâng cao, nước tràn ngập cả vào sàn nhà, họ vẫn ung dung nằm võng, hát nghêu ngao.
Cả đàn ông lẫn đàn bà bản xứ đều có dáng đi khuỳnh khoàng, hai chân dang rộng. Trẻ nhỏ thường được mẹ bế cắp nách (rất khác với phụ nữ châu Âu thường dùng hai tay bế con hoặc địu sau lưng như phụ nữ châu Phi). Theo viên bác sĩ, điều này có thể là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến dáng đi của người trưởng thành sau này. Morice cũng chú ý đến tư thế ngồi rất đặc trưng của họ: có thể ngồi xổm trên gót chân trong thời gian dài. Dọc các con đường, không hiếm để gặp cảnh người dân ngồi xổm nhai trầu.
Họ không dùng đầu gối lẫn thân người khi trèo cây, và đạt tới độ cao nhất định, họ dùng lòng bàn tay, chân quặp chặt thân cây. Điều khiến Morice chú ý là ngón chân cái của người bản xứ. Những người thuộc tầng lớp bình dân, do không có thói quen đi giày, chủ yếu là để chân trần kể cả khi chèo thuyền, trèo cây khiến ngón chân phát triển tự nhiên, đặc biệt là ngón chân cái.
Morice rất thú vị khi làm quen với những đứa trẻ được gọi thân mật "Nhóc Sài Gòn". Chúng kiếm tiền bằng nhiều nghề: vác súng thuê cho cánh thợ săn, dẫn đường băng rừng hay qua các cánh đồng, săn chim trong khu sình lầy hay câu cá trên sông, xua đuổi trâu bò. Khi túi rủng rỉnh được vài đồng, nhóc Sài Gòn tụ tập cùng lũ bạn dưới mái hiên các tòa nhà, chơi bài ăn tiền từ số tiền vừa kiếm được. Đôi khi những ván bài kết thúc bằng các cuộc cãi cọ, ẩu đả nho nhỏ do gian lận. Sau này, nhóc Sài Gòn trở thành người giúp việc trong các gia đình người Âu, nấu ăn và dọn phòng, sắp xếp đồ đạc.
Sau khi chiếm được Nam Kỳ, chính quyền thuộc địa Pháp tuyển mộ người bản xứ vào quân đội, gọi là lính tập được cấp quân phục giống như lính thủy đánh bộ Pháp và được trang bị súng chassepot. Lính tập chịu sự chỉ huy của các sĩ quan Pháp, lập thành những đại đội bản xứ, tuy nhiên, do vóc dáng nhỏ bé khiến họ gặp khó khăn trong việc mang quân phục, đặc biệt là giày. Ngoài ra, quân Pháp còn thành lập lực lượng quân đội bản xứ thứ hai là các Mata, phục vụ các quan cai trị. Họ mặc quần vải calicot trắng, đi chân đất, thắt lưng đỏ rộng bản có treo túi đựng thuốc và trầu, áo màu xanh lơ ánh vàng và bên trái có gắn số của đại lý quản lý trực tiếp, đầu đội mũ salaco chóp nhỏ bằng đồng, tóc búi theo kiểu truyền thống. Những Mata này được trang bị giáo và súng trường ngắn, số ít trong đó được chọn huấn luyện trở thành hạ sĩ quan: cai, đội và thơ lại. Một số người bản xứ cũng được tuyển mộ làm việc trên các pháo thuyền và trở thành những thủy thủ dày dạn.
Khi về già, ngoại hình của đàn ông Nam Kỳ thay đổi khá nhiều, râu thưa và bạc nhanh. Là chủ gia đình nên họ rất được kính trọng, nhiều người già giàu có cưỡi ngựa và được chào lạy một cách cung kính khi xuống ngựa.
Nhìn phụ nữ Nam Kỳ, người ta có thể đoán được gia cảnh của họ. Người thuộc gia đình khá giả thường có vóc dáng thanh thoát, da trắng, các ngón chân và tay thon hơn những phụ nữ lam lũ làm nông hay đánh cá. Họ ăn trầu và thường có mái tóc đen dài khá đẹp, thường tết gọn và chăm sóc bằng dầu dừa; nếu tóc thưa có thể dùng tóc giả. Khi bước đi, dáng của họ có xu hướng hơi chúi về trước, tay vung nhẹ. Các cô gái thường đeo vòng vàng hoặc bạc ở cổ tay hay cổ chân, tai đeo hoa tai hình cái đinh đầu to bằng hổ phách vàng hoặc bằng vàng. Phụ nữ bình dân thường để đầu trần hoặc quấn khăn, người khá giả đội mũ rơm giống như mũ salaco nhưng có vành rộng hơn và uốn lượn, đáy bằng, hai quai làm từ hai dải lụa vàng được tết và phía đầu gắn tua rua buông xuống tận thắt lưng.
Đời sống của người Sài Gòn - Chợ Lớn
Bác sĩ Morice rất thích thú khi gặp cảnh người Nam Kỳ nhai trầu và hút thuốc. Theo ông ta, có đến 2/3 dân cư ở châu Á và châu Đại Dương có thói quen nhai trầu. Khâu têm trầu được chuẩn bị rất cẩn thận: chọn và rửa sạch lá trầu, cau bổ miếng, vôi (người nghèo dùng vôi trắng còn người khá giả sẽ dùng vôi hồng). Vôi được phết lên dọc lá trầu sau đó cuộn gói miếng cau và đưa vào miệng nhai. Vôi hồng là sản phẩm buôn bán khá được ưa chuộng giữa Xiêm La (Thái Lan ngày nay) và Nam Kỳ, đặc biệt là Hà Tiên và dường như những người sản xuất vôi đã cho thêm nghệ vào để tạo màu sắc bắt mắt. Nhai trầu giúp giảm cơn khát, thanh lọc hơi thở nhưng tác hại lớn là gây cao răng ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng, đặc biệt là tác hại của vôi.
Người Nam Kỳ cũng hút thuốc lá nhiều, họ dùng lá thường cuộn thành điếu như thuốc lá của người Âu, nhưng cho mùi khá đặc biệt dễ nhận ra. Thuốc lá hảo hạng được trồng ở Long Thành và theo người bản xứ, chúng đặc biệt là do được chăm tưới bằng nước tiểu của trâu bò.
Ngôn ngữ Nam Kỳ là đơn âm và có nhiều từ vay mượn từ tiếng Hán nhưng từ vựng hoàn toàn khác, đơn giản hơn. Người Âu gặp khó khăn trong phát âm, đặc biệt là hiểu ngữ nghĩa vì tính đa nghĩa của từ, điều này thường gây ra những tình huống dở khóc dở cười nếu không hiểu chính xác ý nghĩa hài hước của các sự việc được nói tới. Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đã mang đến xứ này ngôn ngữ theo hệ chữ La-tinh. Chữ Hán và Hán Nôm vẫn được sử dụng trong các giao dịch thương mại, tòa án và ngoại giao nhưng dần bị hạn chế.
Một trong những công trình mới mang dấu ấn của người Pháp ở Nam Kỳ chính là Thảo Cầm Viên ở phía đông Sài Gòn và có một cây đa rất cổ thụ trên con đường dẫn đến khu vườn ở phía tu viện Sainte-Enfance. Thảo Cầm Viên là tâm huyết của giám đốc Jean-Baptiste Pierre, một địa điểm đi dạo yêu thích nhất của người Sài Gòn, nhiều sĩ quan Pháp cũng như nhà buôn của thành phố thường đến đây vào buổi tối để hít thở không khí trong lành.
Trải dài tới sát Thảo Cầm Viên là đồng bằng rộng lớn được chia cắt bởi những ruộng lúa có tên gọi là Cánh Đồng Mả. Những ngôi mộ ở đây được xây bằng đất hoặc bằng gạch, phủ bằng lớp vữa đặc biệt hay bê tông, trang trí bằng hình những con vật, cây cối cũng như tên và chức danh của người đã khuất, với màu sắc rực rỡ. Không xa Sài Gòn là bao, trên đường đi Gò Vấp là ngôi mộ của giám mục Adran, có tường rào bao quanh và được canh gác. Những bức vẽ vô cùng khác lạ, do các nghệ sĩ bản xứ thể hiện trên tường, trong đó có hình vẽ một con hổ lông vàng sẫm vằn vện đen với ánh mắt trở nên hung tợn do hai mắt được gắn hai viên thủy tinh tráng men. Bảng khắc bằng chữ Hán ghi danh hiệu và những đóng góp của vị linh mục.
Hệ động vật ở Nam Kỳ mang nét riêng với loài bò sát khá lớn: tắc kè - cư dân của những khu rừng, nơi đổ nát, nhà ở. Chúng có da màu ghi xanh nhạt với những mấu nhỏ ở giữa có đốm màu vàng cam, tròng mắt to màu vàng và nhờ vào màng chân có cơ chế hoạt động như giác mút nên có thể di chuyển trên các bề mặt trơn nhẵn, không bị ảnh hưởng của trọng lực. Tiếng kêu của chúng cũng rất lạ khiến ai mới nghe lần đầu đều thấy sợ. Dạo đầu là tiếng gừ gừ khe khẽ sau đó liên tiếp là 5, 6 hoặc 8 tiếng gừ gừ với âm lượng giảm dần tiếp đến chúng kêu nghe từa tựa như "tắc kè" và kết thúc bằng tiếng gừ gừ đầy thỏa mãn. Tắc kè là loại sinh vật có ích, có thể nuốt chửng những con chuột nhỏ, gián và một số côn trùng gây hại khác. Chúng rất trung thành nhưng đôi khi trở thành những người bạn bất đắc dĩ của người bản xứ khi nhà họ biến thành bản doanh của vài con tắc kè, mỗi khi đêm về, họ mất ngủ nằm nghe, đếm tiếng chúng kêu.
Bác sĩ Morice cũng chú ý đến một loại thằn lằn sống trên cây và cả trong nhà. Đêm về, trong ánh đèn, người ta có thể bắt gặp chúng dạo chơi trên trần nhà, bắt côn trùng và kêu "tốc tốc" đến 10 lần. Chúng rất thích đồ ngọt và là động vật có ích, ăn muỗi.Do tính chất nghề nghiệp, Morice cũng ghé thăm bệnh viện Chợ Quán - nơi chữa trị một trong những bệnh đáng sợ ở Đông Dương: bệnh phong. Theo ông ta, người Âu ở Đông Dương không bị mắc chứng bệnh này, chúng chỉ tấn công người bản xứ - vốn chủ yếu ăn cá. Ngoài ra, các bác sĩ Hải quân Pháp tại đây còn chữa trị các bệnh liên quan đến nhiễm trùng da.
Sau 3 tháng lưu trú ở Sài Gòn, hành trình Nam Kỳ du hí của A. Morice tiếp tục với điểm đến tiếp theo là Gò Công nằm, ở nam tây nam Sài Gòn.
Ghi chú :
- Th.Weber :Tất cả các minh họa trong bài viết đều trong tạp chí số ra đã dẫn ở trên.- Phố Catinat : Nay là đường Đồng Khởi.
- Phố Nationale Nay là đường Hai Bà Trưng.
- "Nhóc Sài Gòn" Nguyên văn tiếng Pháp "les gamins de Saigon".
- Cánh Đồng Mả Tên tiếng Pháp Plaine des Tombeaux, theo nhiều nghiên cứu, chỉ xác định nay là khu vực vòng xoay Dân chủ.
- giám mục Adran Hay còn được biết đến là giám mục Bá Đa Lộc, tên thật là Pierre Joseph Georges Pigneau, được phong giám mục hiệu tòa Adran.
KỲ II. GÒ CÔNG - HÀ TIÊN
KỲ II. GÒ CÔNG - HÀ TIÊN